Xe buýt nội thành Hà Nội

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Xe buýt là phương tiện giao thông công cộng chủ yếu tại Hà Nội, những chiếc xe buýt đầu tiên đã bắt đầu được sử dụng tại thành phố này vào khoảng những năm sau thế chiến thứ nhất 1919 - 1920.

Lịch sử hình thành và phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Pháp thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Sau thế chiến thứ nhất, vào khoảng những năm 1919, 1920 có 4 chiếc xe buýt hãng GM (Mỹ) lần đầu xuất hiện tại Hà Nội; nơi đón trả khách là bến cột đồng hồ gần ga Long Biên; không biết chủ xe là ai, chỉ biết những người lái xe là lính thợ Việt Nam đi lính cho Pháp trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất và có bằng lái do chính phủ Pháp cấp.[1]

Cầu Long Biên lúc đó còn hẹp, chưa được mở rộng hai bên nên 4 chiếc xe chở khách đi Hưng Yên không thể qua cầu, phải đi phà sang bên kia sông. Đến năm 1923, việc mở rộng đường hai bên cầu được hoàn thành, xe có thể đi qua cầu. Rồi số xe tăng nhanh, bến đồng hồ trở nên chật trội nên hội đồng thành phố quyết định chuyển bến ra chỗ bán Nứa, cách cột đồng hồ không xa về phía bắc, từ đó có bến Nứa. Ba hãng xăng là Shell, Socony và Texaco (của Mỹ) mở điểm bán xăng và Texaco đã giành được quyền tài trợ xây nhà bán vé khang trang, trên nóc nhà bán vé có cột hình vuông 4 mặt có tên Texaco. Theo tạp chí "Tự nhiên" xuất bản bằng tiếng Pháp năm 1926 phát hành tại Hà Nội thì năm 1925, trung bình một ngày có 4 xe tải, 166 xe ô tô con và 79 lượt xe buýt qua lại cầu Long Biên.

Từ bến Nứa, hằng ngày có xe đi Hưng Yên, Sơn Tây, tuyến ngắn chạy đến Chèm. Khách chủ yếu là người buôn bán và các chức dịch nông thôn đi Hà Nội sắm hàng hóa. Đi Sơn Tây có 4 hãng lớn gồm: Tư Đường, Chí Thành, Mỹ Lâm và Larriveé (chủ Pháp). Tuyến đi Hưng Yên có hãng Con Thỏ.

Phía nam Hà Nội có bến Kim Liên, vốn trước đó là chợ của làng Kim Liên. Bến mở vào cuối những năm 1920, ban đầu nằm gần Cửa Nam cản trở giao thông nội đô nên hội đồng thành phố quyết định chuyển xuống Kim Liên. Bến này có xe tuyến dài đi Nam Định, Thái Bình, tuyến ngắn đi Phủ Lý, Thường Tín, Văn ĐiểnNgọc Hồi. Phía tây có bến Kim Mã, trước đó vốn là hồ ao sau thành phố mở mang đã cho lấp hồ, bến hình thành cũng vào cuối những năm 1920, chuyên chở khách đi Sơn Tây, Hòa Bình, tuyến ngắn đi Hà Đông và Ba La.

Xe buýt thời Pháp chỉ có một cửa lên xuống ở phía sau. Ban đầu có 2 hàng ghế gỗ sát thành xe như ghế tầu điện và tàu hỏa ở giữa là chỗ đi lại. Nhưng sau đó nhận thấy để ghế dọc chở ít khách nên các hãng xe cải tiến thành ghế ngang chở được nhiều khách hơn, trung bình mỗi xe trở khoảng 30 khách. Năm 1930 cả Bắc Kỳ có gần 5.000 xe các loại trong đó có 405 xe buýt nhưng tập trung chủ yếu ở Hà Nội, số xe ở Hải Phòng bằng một phần ba Hà Nội.

Năm 1941, có tờ báo Pháp đã vẽ tranh châm biếm về xe buýt ở Hà Nội phần giữa xe ép sát đất khách còn hàng hóa trên nóc cao lên tới mặt trời. Sở dĩ có chuyện này vì chiến tranh thế giới thứ II xảy ra, xăng dầu nhập vào Việt Nam khó khăn, nhiều hãng phải cải tiến xe để chạy than. Chiến tranh cũng khiến phụ tùng khan hiếm nên nhiều xe hỏng không có phụ tùng thay đành đắp chiếu.

Thời Việt Nam dân chủ Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi Hà Nội tiến hành cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh vào năm 1959 thì Hà Nội có gần 800 xe lớn nhỏ gồm cả chở khách và chở hàng hóa. Năm 1960, thì 95% số ô tô được công tư hợp doanh và Hà Nội tiến hành nhập 2 xí nghiệp công tư hợp doanh thành Xí nghiệp xe khách Hà Nội, chủ yếu chạy đường dài đi các tỉnh, đỗ ở ba bến xe: Bến Nứa, Kim Mã và Kim Liên. Năm 1957, cán bộ miền Nam tập kết ra Hà Nội được Ban Thống nhất Trung ương cấp vốn mua 10 ô tô khách lập Tập đoàn ô tô buýt Thống Nhất,[2] tháng 2-1958 mở tuyến Kim Liên - Hà Đông. Đến tháng 12-1962, Xí nghiệp xe khách Hà Nội và Tập đoàn xe buýt Thống Nhất hợp nhất thành Xí nghiệp xe khách Thống Nhất phục vụ giao thông công cộng của thành phố với 192 xe; 4.106 ghế. Xe buýt hay ô tô buýt là mượn từ tiếng Pháp autobus chỉ xe chở mọi người. Thời Pháp thuộc vẫn gọi là xe buýt dù xe tuyến ngắn hay tuyến dài, nhưng đến chế độ mới thì xe đường dài và khách được mang theo hàng hóa gọi là xe khách còn xe chạy tuyến ngắn và khách chỉ được mang đồ đạc gọn nhẹ gọi là xe buýt.

Xe buýt nhanh chóng trở thành phương tiện chủ yếu của cán bộ công nhân viên chức đi làm, học sinh - sinh viên đi học. Năm 1964 đã có 903 khách mua vé tháng. Năm 1965 Hà Nội đã có tới 300 xe buýt, với 8 tuyến. Giá vé đồng hạng ở tất cả các tuyến, do thành phố bù lỗ nên giá vé rất rẻ nên rất đông, vì nhiều người bỏ xe điện đi xe buýt cho nhanh.

Trước năm 1975 xe buýt chủ yếu là xe Hải Âu (của Liên Xô), xe Ba Đình (đóng trong nước sử dụng máy IFA của Cộng hòa dân chủ Đức) và Q50, ngoài ra còn có một ít xe Lavop (của Liên Xô). Rồi xe đạp tăng lên nhanh chóng do những người đi xuất khẩu lao động ở Tiệp Khắc, Cộng hòa dân chủ Đức, Nga gửi về nên nhiều người bỏ xe buýt. Đến năm 1985 thì đi xe buýt phần lớn là sinh viên.

Thời Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2001, bốn công ty Xe buýt Hà Nội, Vận tải hành khách Nam Hà Nội, Xe du lịch Hà Nội, Xe điện Hà Nội hợp nhất thành Công ty Vận tải và Dịch vụ công cộng Hà Nội. Năm 2004, Tổng công ty Vận tải Hà Nội (Transerco) được thành lập trên cơ sở Công ty Vận tải và Dịch vụ công cộng Hà Nội.[3] Transerco nhanh chóng phát triển trở thành công ty dẫn đầu về dịch vụ xe buýt tại Hà Nội.

Thời gian vận hành[sửa | sửa mã nguồn]

Các tuyến xe buýt hoạt động từ 4h35 - 24h, tần suất thường là 3 - 55 phút/chuyến (tùy tuyến, phụ thuộc vào lượng khách sử dụng nhưng thường thường tần suất các tuyến là 7 - 10 phút /chuyến). Xe buýt hoạt động tất cả các ngày trong tuần nhằm phục vụ tối đa sự đi lại của người dân khu vực nội thành và ngoại thành Hà Nội.

Giá vé[sửa | sửa mã nguồn]

Vé lượt[sửa | sửa mã nguồn]

Vé lượt áp dụng cho 1 lần đi xe buýt.

Giá vé lượt cho các tuyến có cự li dưới 25 km: 7.000 đồng/lượt, từ 25 – 30 km: 8.000 đồng/lượt, 30 km trở lên: 9.000 đồng/lượt.

Riêng giá vé tuyến 86: Ga Hà Nội - Bờ Hồ - Sân bay Nội Bài là 30.000 đồng/lượt.

Vé tháng[sửa | sửa mã nguồn]

Loại vé 1 tuyến Liên tuyến
Ưu tiên

(Học sinh, sinh viên, người cao tuổi, công nhân)

55.000 đồng/tháng 100.000 đồng/tháng
Ưu tiên

(Mua theo hình thức tập thể trên 30 người)

70.000 đồng/tháng 140.000 đồng/tháng
Không ưu tiên

(Đối tượng khác)

100.000 đồng/tháng 200.000 đồng/tháng

(Giá vé tháng trên đã bao gồm tiền bảo hiểm thân thể hành khách đi xe; áp dụng cho tất cả các tuyến xe buýt có trợ giá)

Ngoài ra, xe buýt Hà Nội còn miễn phí wifi (tuyến buýt 01, 02, 03A, 04, 07, 11, 12, 14, 16, 18, 22A, 22B, 24, 26, 28, 29, 31, 32, 33, 34, 35A, 36, 38, 39, 50, 55A, 55B, 84, 85, 86, 90, 92, 97, 98, 99, 100, 103, 104, 105, 106, 107, BRT 01), vé xe buýt cho trẻ em dưới 6 tuổi được miễn phí và cung cấp thẻ đi xe buýt miễn phí cho thương binh, bệnh binh, người khuyết tật.

Trong khuôn khổ Dự án cải thiện giao thông cộng cộng tại Hà Nội (TRAHUDII), Hà Nội đã triển khai thí điểm sử dụng vé điện tử thông minh cho hệ thống vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt.

Đơn vị vận hành[sửa | sửa mã nguồn]

Các đơn vị thuộc Tổng Công ty Vận tải Hà Nội (TRANSERCO)[sửa | sửa mã nguồn]

- Xí nghiệp Xe buýt Hà Nội: 01, 03A, 04, 06A, 06B, 06C, 11, 12, 15, 17, 23, 36, 100, 108.

- Xí nghiệp Xe buýt Thăng Long: 14, 16, 20A, 20B, 26, 30, 38, 39, 106, 107.

- Xí nghiệp Xe buýt 10 - 10: 05, 13, 18, 20C, 28, 29, 31, 50, 53A, 53B, 92, 95, 96, 97.

- Công ty Cổ phần Xe Điện Hà Nội: 07, 25, 27, 34, 35A, 35B, 55A, 55B, 56A, 56B.

- Xí nghiệp Xe buýt Cầu Bươu: 06D, 06E, 22A, 22B, 22C, 24, 32, 84, 85, 91, 103.

- Xí nghiệp Xe buýt Yên Viên: 03B, 10A, 10B, 40, 54, 86, 90, 93.

- Công ty Cổ phần Vận tải và Dịch vụ Liên Ninh: 08A, 08B, 09, 19, 21A, 21B, 37.

- Công ty Cổ phần Vận tải Newway: 47A, 47B, 48, 94.

- Công ty Cổ phần Xe Khách Hà Nội: 49, 51, 212

- Trung tâm Tân Đạt: 33, 52A, 52B, 62, 101, 104.

- Xí nghiệp Xe khách nam Hà Nội: 63, 87, 88, 98, 99.

- Xí nghiệp Xe buýt nhanh Hà Nội: 02, 89, 102, 105, BRT 01.

Các đơn vị không thuộc TRANSERCO[sửa | sửa mã nguồn]

- Công ty TNHH Bắc Hà: 41, 42, 43, 44, 45.

- Công ty Cổ phần Vận tải, Thương mại và Du lịch Đông Anh: 46.

- Công ty TNHH Du lịch, Dịch vụ, Xây dựng Bảo Yến: 57, 58, 59, 60A, 60B, 61, 65, 76.

- Công ty Liên doanh Vận chuyển Quốc tế Hải Vân: 64, 74, 80.

- Công ty Cổ phần Xe Khách Hà Tây: 70, 72, 75.

- Công ty Cổ phần Dịch vụ và Vận tải Bảo Châu: 78.

Hệ thống nhận diện thương hiệu của xe buýt Hà Nội[sửa | sửa mã nguồn]

Xe được in biểu tượng cánh chim hòa bình cùng Khuê Văn Các trên thân xe. Hệ thống xe được chia nhận diện theo màu xe như sau:

Màu xe Tính chất Số hiệu tuyến
Các xe đã đổi màu Các xe chờ đổi màu
(hiện vẫn dùng màu cũ Đỏ-vàng)
Xanh da trời Tuyến chạy trên các phố chính của 12 quận nội đô. 03A, 04, 09, 14, 18, 25, 28, 31, 33, 35A, 36, 38, 39, 50, 55A, 55B, 100. 01, 02, 03B, 08A, 08B, 11, 12, 16, 19, 20A, 21A, 21B, 22A, 22B, 22C, 24, 26, 27, 29, 30, 32, 34, 37, 41, 42, 43, 44, 45, 48, 49, 51, 60A, 60B.
Các tuyến chạy trục kết nối nội thành với các khu đô thị vệ tinh, thị trấn, thị xã ở ngoại thành 88, 92, 103, 107. 06A, 20B, 72, 87, 89, 101, 102, 108.
Xanh lá cây Tuyến chạy gom khu trung tâm, chủ yếu đi các phố nhỏ, kết nối xe buýt 23, 84, 85, 97, 98, 99, 104, 105, 106. 05, 13.
Da Cam Tuyến kết nối sân bay 86, 90. 07, 17.
Đỏ vàng Tuyến kết nối khu trung tâm với ngoại thành
Các tuyến buýt kế cận, liên tỉnh
06B, 06C, 06D, 06E, 10A, 10B, 15, 35B, 40, 46, 47A, 47B, 52A, 52B, 53A, 53B, 54, 56A, 56B, 57, 58, 59, 61, 62, 63, 64, 65, 89, 91, 93, 94, 95, 96, 202, 203, 204, 205, 206, 207, 208, 209, 210.

Theo tần suất, chất lượng xe dịch vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Tần suất

(phút/chuyến)

Tuyến Chất lượng xe hiện tại
Xe trên 80 chỗ Xe 60 - 80 chỗ Xe dưới 60 chỗ
3 - 5 BRT01, 02, 26, 32. BRT01, 02, 26, 32.
7 21A, 22A, 27, 39. 21A, 22A. 27, 39.
8 - 12 01, 03A, 03B, 04, 06A, 07, 08A, 10A, 11,

12, 14, 16, 17, 19, 21B,

22B, 24, 25, 28, 29, 30,

31, 34, 37, 41, 44,

46, 58, 59, 60A, 60B, 61, 65,

72, 74.

01, 03A, 06A, 07, 08A, 10A, 17,

21B, 22B, 34.

03B, 04, 11, 12, 14, 16,

19, 24, 25, 28, 29,

30, 31, 37, 41, 44,

46, 58, 59, 60A,

60B, 61, 65, 72, 74.

14 - 16 05, 09, 13, 15, 18, 22C, 23, 33,

35A, 35B, 36, 38, 40, 42, 43, 45,

48, 49, 50, 51, 52A, 53B, 54,

55A, 55B, 56A, 57, 62,

63, 64, 86, 103, 107, 108.

15, 40, 52A, 53B, 54, 56A, 86. 09, 18, 22C, 33, 35A,

35B, 36, 38, 42,

43, 45, 48, 49, 50,

51, 55A, 55B, 57,

62, 63, 64, 103, 107.

05, 13, 23, 108.
20 08B, 20A, 53A, 84, 85, 87, 88, 89,

90, 91, 92, 93, 94, 95, 96,

97, 98, 99, 100, 101, 102,

104, 105, 106.

08B, 20A, 20B, 53A. 87, 88, 89, 90, 91,

92, 93, 94, 95, 96,

101, 102.

84, 85, 97, 98,

99, 104, 105, 106.

25 - 30 06C, 10B, 20B, 47A, 47B,

56B.

06C. 10B, 47A, 47B,

56B.

40 - 60 06B, 06D, 06E, 20C, 52B. 06B, 20C, 52B. 06D, 06E.

Theo thời gian hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Mở bến Tên tuyến Đóng bến Tên tuyến
4h - 4h50 16, 46, 56A, 56B, 108 19h30 - 19h55 3B, 6E, 20C, 56B, 87, 88.
5h - 5h15 01, 02, 03, 04, 05, 6A, 6B, 6C, 07, 8A, 8B, 09, 10A, 10B, 11, 12,

13, 14, 15, 17, 18, 19, 20A, 20B, 21A, 21B, 22A, 22B, 22C, 23,

24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35A, 35B, 36, 37, 38,

39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 47A, 47B, 48, 49, 50, 51, 52A, 52B,

53A, 53B, 54, 58, 59, 60A, 61, 62, 63, 64, 65, 72, 84, 85, 86,

87, 88, 89, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101, 102, 103

104, 105, 106, 107.

20h - 20h55 6D, 10B, 20B, 35B, 48, 53A, 53B, 55A, 55B, 57, 74, 91, 92, 93, 95, 96, 103.
5h20 - 5h35 3B, 6D, 20C, 55B, 57, 60B, 90. 21h - 21h20 01, 03, 04, 05, 6A, 6B, 6C, 8B, 09, 12, 13, 14, 15, 18, 19, 20A, 21A, 21B, 25, 28, 29,

30, 31, 33, 34, 35A, 36, 37, 38, 39, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47A, 47B, 49, 50, 51,

52A, 52B, 58, 59, 60A, 61, 62, 63, 64, 65, 72, 84, 85, 94, 97, 98, 100, 102, 104, 105, 106,

107, 108.

5h40 - 6h 6E, 55A 21h30 - 22h20 10A, 11, 16, 17, 22C, 24, 27, 40, 54, 56A, 99, BRT01
22h30 - 23h 02, 07, 8A, 09CT, 22A, 22B, 26, 32, 86, 90.

Danh sách tuyến xe buýt Hà Nội[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]